Bài đăng

Thuốc tốt từ quả cam

Hình ảnh
Quả cam là một trong những loại trái cây quen thuộc có chứa tinh dầu mang mùi thơm và nhiều vitamin C, rất mát và bổ dưỡng cho cơ thể. Ngoài ra, mọi bộ phận của cây cam từ lá, hạt, vỏ… đều có thể làm thuốc.Theo y học cổ truyền, cam có vị ngọt, chua, tính hơi mát, công năng sinh tân giải khát, khai vị, chữa ho, đùng khi chán ăn, đầy tức ngực sườn, giải độc cá, cua, làm ốm và giải rượu. Vỏ quả cam có vị cay, mùi thơm, tính ẩm, có tác dụng tiêu đờm, thông khí trệ, giúp tiêu hoá...Sau đây là một số công dụng:Nước cam- Quả cam đường dùng để ăn có nhiều tác dụng; lại được dùng làm thuốc giải nhiệt trị sốt, điều trị chứng xuất tiết và giúp ăn ngon miệng. Ngoài ra, còn có tác dụng giải rượu vì chứa nhiều vitamin C, Ca, P, K, caroten, acid citric và aureusidin… rất có ích cho cơ thể.- Nước cam còn có thể dùng làm sạch giúp cho da mịn màng, bằng cách dùng khăn lau mặt ngâm nước cam rồi chà xát da mặt.- Nhiều chứng bệnh như miệng khát họng đau, ho khạc nhiều đờm… dùng cúc hoa rửa sạch, hãm với n…

Cỏ tam giác cầm máu, tiêu thũng

Hình ảnh
Cỏ tam giác còn có tên gọi khác là tề thái, cây tề, địa mễ thái, cải dại. Theo Đông y, cỏ tam giác có vị ngọt nhạt, tính mát; có tác dụng bổ tỳ kiện vị, thanh can minh mục, chỉ huyết lợi niệu. Có tác dụng thanh nhiệt, giảm ho, cầm máu, lợi tiểu, tiêu thũng, trừ suyễn, dùng cho các trường hợp chảy máu cam, thổ huyết, khái huyết, niệu huyết, tiện huyết, viêm sưng kết mạc mắt, phù nề đầy trướng.Ở nước ta, cây cỏ tam giác mọc hoang ở nhiều nơi, thường gặp trên những bãi cỏ ven bờ sông, bãi suối ẩm, ruộng hoang, cũng có khi được trồng. Ðể làm thuốc, người ta thu hái toàn cây, có khi bỏ rễ vào cuối xuân, mùa hè và mùa thu. Rửa sạch và phơi khô ngoài nắng hay trong râm ở nhiệt độ 30 - 45ºC.Cỏ tam giác vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng bổ tỳ kiện vị.Một số món ăn, bài thuốc có cỏ tam giác:Chữa đi lỵ ra máu: Dùng cỏ tam giác cả rễ đốt tồn tính hay sao già, sắc uống.Chữa cảm sốt cao, nổi mẩn, viêm thận phù thũng, đái ra dưỡng chấp: Cỏ tam giác khô 40g (hoặc 80g tươi) sắc uống riêng, hay phối …

Bạch hoa xà thiệt thảo chống viêm

Hình ảnh
Bạch hoa xà thiệt thảo còn gọi cỏ lưỡi rắn hoa trắng, tên khoa học: Hedyotis diffusa Willd., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây thảo, mọc bò, dài 20-30cm. Thân vuông màu nâu nhạt, nhiều cành. Lá mọc đối, hình mác thuôn, đầu và gốc lá nhọn, có lá kèm. Hoa màu trắng, ít khi màu hồng, mọc đơn độc hay đôi ở kẽ lá. Quả khô bao bọc bởi lá đài tồn tại, hạt nhiều có cạnh. Bạch hoa xà thiệt thảo có chứa osid: asperulosid, scandosid methyl ester, 6.0. p coumaroyl scadosid...; các acid: oleanolic, p. coumaric, stigmasterol, ox-sitosterol và sitosterol-o-glucose. Vị ngọt đắng, tính hàn; vào kinh vị, tâm, can, đại tràng và tiểu tràng. Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi thấp, tán ứ, chống u. Làm thuốc chống viêm, chữa phế nhiệt, hen suyễn, viêm họng, amiđan, viêm đường tiết niệu, viêm gan, viêm vùng chậu. Dùng ngoài chữa rắn cắn, côn trùng đốt, đau lưng, đau khớp. Hiện nay, bạch hoa xà thiệt thảo phối hợp với một số dược liệu khác dùng hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, trực tràng, u…

Vị thuốc hổ trượng căn

Hình ảnh
Cây hổ trượng.Hổ trượng căn còn gọi là củ cốt khí, hoạt huyết đan, tử kim long, ban trượng căn, điền thất (miền Nam), là rễ phơi hay sấy khô của cây hổ trượng.Hổ trượng là loại cây nhỏ, sống lâu năm, thân mọc thẳng, cao từ 1-2m. Thân không có lông, trên thân và cành thường có những đốm tím hồng. Lá mọc so le, có cuống ngắn. Phiến lá hình trứng, rộng, đầu trên hơi nhọn, phía cuống hoặc hơi phẳng hoặc hẹp lại, mặt trên màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn. Cuống dài 1-3cm. Bè chìa ngắn. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, mang rất nhiều hoa nhỏ, cánh hoa màu trắng. Hoa đực có 8 nhị. Hoa cái có bầu hình trứng với 3 cạnh, 3 núm. Quả khô có 3 cạnh màu nâu đỏ.Cây mọc hoang rất nhiều ở vùng rừng núi Sa Pa (Lào Cai), được trồng bằng củ mọc rất dễ. Mùa thu hoạch quanh năm nhưng tốt nhất vào tháng 8-9 hoặc tháng 2-3. Khi thu hái đào lấy củ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất, cắt thành từng mẩu ngắn hoặc thái mỏng, phơi hay sấy khô.Theo y học cổ truyền, hổ trượng căn có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng hoạt huyết, …

Lá tre: thanh nhiệt, hạ sốt

Hình ảnh
Lá tre là một dược liệu dùng phổ biến trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Lá tre được thu hái khi phiến lá chưa mở hết, màu xanh mởn. Dược liệu được dùng tươi, có vị ngọt nhạt, hơi cay vào các kinh tâm, phế, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu giảm sốt. Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh có dùng lá tre:Chữa viêm thanh quản, mất tiếng: Lá tre 12g, trúc nhự 12g, tang bạch bì 12g, thổ bối mẫu 10g, thanh bì 8g, cát cánh 8g, nam tinh chế 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.Chữa cảm sốt, miệng khô khát: Lá tre 16g, kim ngân 16g, cam thảo đất 12g, kinh giới 8g, bạc hà 8g. Sắc uống ngày 1 thang.Sơ đồ viêm thanh quản.Chữa viêm phế quản cấp tính: Lá tre 12g, thạch cao 16g, tang bạch bì 12g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, thiên môn 12g, hoài sơn 12g, lá hẹ 8g. Sắc uống trong ngày.Chữa tràn dịch màng phổi: Lá tre 10g, phục linh 12g, thương truật 10g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, cam thảo 6g, nguyên hoa 4g, cam toại 4g, ba kích 4g, đại táo 10 quả. Sắc uống ngày 1 thang (cần theo dõi mạch và huy…

Đậu xanh: Khắc tinh của bệnh tật!

Hình ảnh
Ngoài tác dụng làm thực phẩm, đậu xanh (ĐX) còn được dùng để làm đẹp và chữa bệnh rất hiệu quả. Loại thực phẩm này đã được sử dụng làm thuốc từ rất lâu đời. Sách nam dược thần hiệu của danh y Tuệ Tĩnh viết: “ĐX không độc, bổ nguyên khí, thanh nhiệt, có thể làm sạch mát nước tiêu, chữa lở loét, làm sáng mắt, trị được nhiều bệnh”…Món ăn giải độcĐX còn gọi là đậu chè, đậu tằm, đậu tắt, lục đậu. Có tên khoa học Vigna radiata (L.) Wilczek var. radiata (Phaseolus radiatus L.), thuộc họ Đậu -Fabaceae.Cây ĐX thuộc loại cây thảo mọc đứng, cao cỡ 50cm. Lá có 3 lá chét, có lông ở cả hai mặt. Chùm hoa ở nách lá. Hoa màu vàng lục. Quả đậu hình trụ, mảnh, có lông, trong chứa nhiều hạt hình trụ ngắn, gần hình cầu, màu xanh, ruột màu vàng, có mầm ở giữa.Hạt ĐX có kích thước nhỏ, đường kính khoảng 2 - 2,5mm. Người ta thu hái quả, phơi khô, lấy hạt để làm thực phẩm, chế biến các thức ăn như: cháo, xôi, bánh, chè, xay thành bột làm miến, rang vàng tán bột làm thực phẩm ngũ cốc dinh dưỡng… hoặc ủ cho lên…

Phật thủ

Hình ảnh
Phật thủ được đặt ở vị trí trang trọng nhất trên mâm ngũ quả ngày Tết. Phật thủ có nhiều cánh múi chụm lên như 10 ngón tay nên dân gian gọi là tay Phật với niềm cầu mong được bàn tay Phật trời ban phúc lộc. Ngoài ý nghĩa tâm linh, phật thủ còn có nhiều tác dụng phòng chữa bệnh.Quả phật thủ có tác dụng chữa nhiều bệnh. Theo Đông y, phật thủ vị cay, chua và đắng, tính ấm; vào can vị phế. Có tác dụng lý khí hóa đàm, thư can hòa vị chỉ thống. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng liên sườn, vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, ho hen phế quản nhiều đờm, khó thở. Liều dùng: 2 - 10g quả khô, dưới dạng nấu, hãm.Chữa ho đờm, viêm khí quản mạn tính: phật thủ 6g, bán hạ 6g. Sắc uống trong ngày.Chữa đầy bụng, biếng ăn, nôn mửa: phật thủ 3 - 10g, sắc uống hoặc ngâm rượu.Rượu phật thủ: phật thủ 30g, rượu trắng 500ml. Ngâm trong 7 - 10 ngày. Mỗi lần uống không quá 40 - 50ml. Dùng cho các trường hợp rối loạn tâm thần ý thức (trầm cảm ức chế...).Xi-rô phật thủ: phật thủ 15g rửa sạch thái nhỏ, đường trắng lư…